Thông qua các tình huống: Giúp cụ thể hóa quy định pháp luật. Nâng cao nhận thức về hậu quả. Thông qua tình huống, người dân thấy rõ vấn đề, thay đỏi hành vi và tập quán lạc hậu: Dưới đây là các tình huống về tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống:

Tình huống 1: “Cưới sớm cho kịp mùa vụ”
1. Diễn biến: Sau khi nghe tin gia đình chuẩn bị tổ chức cưới cho em Mùa Thị D mới 15 tuổi, giáo viên chủ nhiệm của D nhận thấy em nghỉ học nhiều ngày, tinh thần sa sút. Cô giáo đến nhà tìm hiểu và phát hiện gia đình đang chuẩn bị bạc trắng, gà trống, rượu ngô để làm lễ “kề chuồng” theo tập tục của bản. Em D có tâm sự với cô giáo rằng em chưa muốn lấy chồng, vẫn muốn đi học cùng bạn bè nhưng sợ cha mẹ buồn và sợ mọi người trong bản nói là “không nghe lời”. Trong khi đó, anh em họ hàng bên nhà trai thúc giục phải tổ chức cưới trước mùa làm nương để “hai đứa kịp tách hộ, làm riêng”. Sau khi nhận được phản ánh từ cô giáo của D; UBND xã đã cử công chức phối hợp cùng đại diện hội phụ nữ đến vận động gia đình D, nhưng bố mẹ D nói: “Bao đời nay nhà nào cũng làm vậy, lấy sớm mới có người làm nương phụ giúp gia đình”. Một số người dân trong bản thậm chí đến phụ dựng lán cưới, coi việc can thiệp của chính quyền là làm trái phong tục. Tuy nhiên; Sau nhiều buổi họp thôn, nghe giải thích từ cán bộ xã và người có uy tín trong thôn; được xem phim pháp luật tuyên truyền các trường hợp tảo hôn trước đây dẫn đến đói nghèo, sức khỏe yếu, gia đình anh Sồng A P đã đồng ý hoãn cưới để cả hai tiếp tục học nghề. Tuy nhiên, cha mẹ em D vẫn lưỡng lự, cho rằng “hoãn cưới thì mất mặt với họ hàng” và vẫn giữ ý định tổ chức lễ cưới đơn giản trong gia đình dù chưa báo với chính quyền.
2. Câu hỏi: Việc cha mẹ em D vẫn giữ ý định tổ chức lễ cưới khi Mùa Thị D mới 15 tuổi là đúng hay sai?
3. Trả lời: Việc cha mẹ em D vẫn giữ ý định tổ chức lễ cưới khi Mùa Thị D mới 15 tuổi là sai. Vì theo quy định tại điểm a, khoản 1, điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; Nam từ đủ 20 tuổi trở lên.

Tình huống 2: “Ép con cưới để nối dõi.
1. Diễn biến: Thời gian gần đây, em Sầm Văn T có nghỉ học nhiều, thường xuyên tránh mặt thầy cô. Khi giáo viên chủ nhiệm xuống nhà tìm hiểu thì nghe tin gia đình đang chuẩn bị lễ dạm ngõ cho T và em Lò Thị N mới 14 tuổi. Khi hỏi, T vừa bối rối vừa lo lắng, em kể với cô giáo chủ nhiệm: “Con không muốn cưới đâu cô, nhưng bố bắt, con sợ bị đánh”. Bên họ em T còn khuyến khích: “Con trai 16 tuổi cưới là chuyện bình thường của đồng bào mình. Để lâu sau này người ta chê là lười lấy vợ, không biết làm ăn”. Một số người trong bản bắt đầu mang quà tới chúc mừng, khiến gia đình càng khó từ bỏ ý định. Qua công tác nắm tình hình và nhận được phản ánh của giáo viên chủ nhiệm. Cán bộ Tư pháp xã và đại diện Đoàn Thanh niên của xã đã đến vận động, cung cấp tài liệu, dẫn chứng các trường hợp tảo hôn dẫn đến vợ chồng bỏ học, nghèo đói, sức khỏe sinh sản kém; suy giảm giống nòi. Tuy nhiên bố em T vẫn khăng khăng: “Nhà tôi chỉ có mỗi thằng T là con trai, không cho cưới sớm thì bao giờ mới có cháu bế?”. Khi sự việc được đưa ra thôn; sau khi nghe cán bộ xã và già làng phân tích rõ quyền trẻ em, điều kiện tuổi kết hôn theo luật, và nhấn mạnh: “Phong tục chỉ tốt đẹp khi không làm hại con cháu mình”. Khi nghe một cặp vợ chồng trẻ trong bản chia sẻ về hậu quả của tảo hôn – con cái ốm yếu, thể trạng thấp còi; kinh tế khó khăn do thường xuyên phải đi viện; bố mẹ của T đã nhận ra hậu quả lâu dài. Ông xin lỗi cán bộ xã, đồng ý hoãn đám cưới, cho T tiếp tục đi học, và hứa sẽ tuyên truyền lại cho bà con trong họ để tránh lặp lại tình trạng tảo hôn.
2. Câu hỏi: Việc bố mẹ em T ép con kết hôn khi chưa đủ tuổi (20 tuổi) có vi phạm pháp luật không?
3. Trả lời: Việc bố mẹ em T ép con kết hôn khi chưa đủ tuổi (20 tuổi) là vi phạm pháp luật về Hôn nhân và Gia đình. Đây là hành vi tảo hôn và cưỡng ép kết hôn, bị cấm theo khoản 2, Điều 5 và điểm a, khoản 1, điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình.
Tình huống 3: “Cưới con chú ruột
1. Diễn biến: Anh Lý Văn H và chị Lý Thị P quen nhau khi cùng tham gia đội văn nghệ của thôn. Do lớn lên gần nhau từ nhỏ, hai người có tình cảm và dự định tiến tới hôn nhân. Khi nghe tin H và P muốn cưới, một số người trong bản đồng tình vì “hai đứa nó hợp nhau”, nhưng một số khác lại lo ngại vì cả hai là con chú – con bác, có quan hệ huyết thống gần. Khi làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã, cán bộ tư pháp – hộ tịch phát hiện quan hệ họ hàng của hai người trong phạm vi 3 đời; nên giải thích đây là hôn nhân cận huyết thống, bị cấm theo Luật Hôn nhân và Gia đình và từ chối thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, bố mẹ anh H phản đối, cho rằng các đời trước của dân tộc mình cũng từng có trường hợp kết hôn trong họ để “giữ dòng máu” và “giữ đất”, hơn nữa họ cho rằng “chúng nó thương nhau thì cứ để cưới”. Sau khi được cán bộ dân số – kế hoạch hóa phối hợp cùng Hội Phụ nữ và Đoàn Thanh niên đã xuống tận nhà phân tích, cho xem các video về hậu quả dị tật bẩm sinh, bệnh di truyền, tình trạng trẻ sinh ra yếu ớt ở những cặp kết hôn cận huyết trong vùng dân tộc trước đây và được nghe môt cặp vợ chồng người thôn bên cạnh – từng sinh con mắc bệnh bẩm sinh vì kết hôn anh H lặng người và nói: “Nếu con cháu mình sau này khổ thì mình ân hận cả đời”. Cuối cùng, cả 02 gia đình đồng ý hủy đám cưới, động viên hai con tạm xa nhau một thời gian và tham gia các hoạt động của bản để ổn định tinh thần.
2. Câu hỏi: Cán bộ Tư pháp xã từ chối đăng ký kết hôn giữa anh H và chị P trong trường hợp trên là đúng hay sai?
3. Trả lời: Cán bộ Tư pháp xã từ chối đăng ký kết hôn trong trường hợp trên là đúng. Vì: Đây là kết hôn trong phạm vi ba đời, bị cấm tuyệt đối theo điểm 4, khoản 2, điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Tình huống 4: “Bắt vợ” theo tục người Mông
1. Diễn biến: Gần dịp Tết truyền thống của dân tộc, nhóm thanh niên trong bản rủ nhau đi chơi hội. Tại đây, Giàng A C (17 tuổi) tỏ ý thích em Giàng Thị D (16 tuổi) – một bạn cùng trường. Tuy nhiên, D chưa muốn kết hôn và vẫn muốn tiếp tục đi học lớp 10. Dù vậy, theo lời bạn bè xúi giục và nghĩ rằng “chỉ cần bắt được là thành vợ”, A C cùng hai người bạn thân nhân lúc D đi về một mình đã lôi kéo D về nhà của AC. Khi bị đưa về nhà A C, D khóc và xin được về nhà vì em chưa đồng ý chuyện làm vợ. Gia đình A C lại cho rằng đó chỉ là “tục lệ vui” của người Mông, còn bảo: “Con gái khóc là chuyện bình thường, mai là quen ngay”. Một số người hàng xóm còn đến chúc mừng, khiến không khí càng thêm căng thẳng. Gia đình em D khi nghe tin đã chạy sang nhà A C, yêu cầu trả con gái về nhưng bị từ chối. Họ lập tức báo lên trưởng thôn và UBND xã. Cán bộ xã, công an viên, Hội phụ nữ và người có uy tín trong thôn đã đến gia đình AC để giải quyết; khi được hỏi ý kiến em D nói trước mặt mọi người: “Con không muốn lấy chồng. Con muốn đi học tiếp”. Tại buổi làm việc Cán bộ xã giải thích rõ: - Em D chưa đủ 18 tuổi, chưa được phép kết hôn; - Hành vi “bắt vợ” khi cô gái không tự nguyện là cưỡng ép kết hôn;- Điều này bị pháp luật nghiêm cấm và có thể bị xử lý hình sự nếu gây hậu quả nghiêm trọng. Người có uy tín trong thông cũng phân tích thêm: Trước đây phong tục “kéo vợ” của người Mông phải dựa trên sự đồng ý của cả hai, không phải ép buộc hay cưỡng bắt. Việc lợi dụng phong tục để ép cưới là sai lệch và gây tai tiếng cho bản. Sau khi nghe phân tích về hậu quả của tảo hôn và cưỡng ép hôn nhân, gia đình A C nhận ra lỗi lầm. A C cũng tỏ ra hối hận và xin lỗi D, thừa nhận làm vậy vì nghe bạn bè và chưa hiểu luật. Cuối cùng, gia đình A C đồng ý trả D về, không tổ chức cưới, cam kết để cả hai tiếp tục đi học và không tái diễn hành vi này. UBND xã lập biên bản sự việc và đưa vào buổi sinh hoạt bản để tuyên truyền phòng, chống tảo hôn.
2. Câu hỏi: “Tục bắt vợ” nếu cô gái chưa đủ tuổi là đúng hay sai?
3. Trả lời: “Tục bắt vợ” nếu cô gái chưa đủ tuổi là sai. Dù là phong tục, nhưng nếu cô gái chưa đủ tuổi hoặc bị ép buộc, thì đó là tảo hôn và cưỡng ép kết hôn, bị pháp luật nghiêm cấm tại điều 5 và điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Tình huống 5: “Anh em họ cưới nhau”
1. Diễn biến: Ở bản N, anh Hồ Văn C (22 tuổi) và chị Hồ Thị M (20 tuổi) quen nhau từ nhỏ vì nhà ở gần nhau. Mặc dù là anh em họ đời thứ hai (ông nội hai bên là anh em ruột), nhưng theo quan niệm của nhiều người lớn trong bản, “đời thứ hai thì xa rồi, cưới được”. Hai anh chị có cảm tình với nhau và quyết định tiến tới hôn nhân. Gia đình hai bên vô cùng phấn khởi. Nhà trai đã mổ heo, sắp lễ, nhà gái chuẩn bị bạc trắng, trầu cau và dựng rạp. Họ hàng kéo đến rất đông, ai cũng nghĩ đám cưới sẽ diễn ra thuận lợi. Khi nghe tin hai người có quan hệ huyết thống trong phạm vi hai đời; chuẩn bị cưới, cán bộ tư pháp, cán bộ dân số xã đã xuống nắm tình hình và giải thích về hôn nhân cận huyết đời thứ hai, đề nghị hai gia đình dừng việc tổ chức lễ cưới. bố anh C nói ngay: “Cán bộ đừng lo. Xa thế rồi mà! Đời thứ hai thì bình thường. Từ xưa dân mình vẫn vậy, có sao đâu.”. Một số người họ hàng phụ họa: “Quan trọng là chúng nó thương nhau. Với lại bao đời nay người bản vẫn có đám cưới kiểu này, có ai bệnh tật gì đâu!” Cán bộ xã tiếp tục giải thích rằng pháp luật nghiêm cấm kết hôn giữa những người có cùng dòng máu trực hệ và họ hàng trong phạm vi ba đời. Nhưng cả hai gia đình vẫn chưa tin, cho rằng pháp luật “quá cứng”. Khi cán bộ nói rõ rủi ro: Con sinh ra có nguy cơ dị tật, thiểu năng trí tuệ; Mắc các bệnh di truyền hiếm; Tỷ lệ tử vong sơ sinh cao hơn; Gánh nặng cả đời cho gia đình. Gia đình tiếp tục phản ứng: “Các anh chỉ nói từ sách vở! Trong bản mình bao nhiêu đôi lấy nhau đời thứ hai vẫn bình thường!”. Khi Cán bộ y tế xã mang theo tranh ảnh, mô hình, video về hậu quả của hôn nhân cận huyết trình chiếu, nhiều người sững sờ và thuyết phục hơn khi có một chị phụ nữ trong bản — từng có con mắc bệnh tim bẩm sinh do kết hôn cận huyết — cũng đến chia sẻ thì gia đình anh C đã nhận thức được và đồng ý không tổ chức lễ kết hôn cho anh C và chị M.
2. Câu hỏi: Việc cán bộ xã xuống can thiệp để gia đình anh C và chị M không tổ chức lễ kết hôn như trong tình huống trên là đúng hay sai?
3. Giải thích: Việc cán bộ xã xuống can thiệp để gia đình anh C và chị M không tổ chức lễ kết hôn như trong tình huống trên là đúng. Vì đây vẫn thuộc phạm vi ba đời – là hôn nhân cận huyết thống, bị pháp luật cấm tại điều 5, Luật Hôn nhân và Gia đình.